Demo Example
Demo Example
Demo Example
Chuyện Việt Nam

Tiếng lóng làng Đa Chất – bí ẩn một di sản bị bỏ quên

Nếu như các bạn có đọc hay xem Harry Potter thì sẽ biết đến Xà Ngữ – một loại ngôn ngữ riêng chỉ có nhân vật chính và phản diện chính mới hiểu được, thế nhưng ngay ngoài đời thật, thậm chí còn rất gần với chúng ta, có một ngôi làng nói tiếng lóng mà chỉ người trong làng mới hiểu. 

Sở dĩ chúng tôi truyền tải đến các bạn thông tin này là bởi, trong một lần đi ăn cưới ở làng Đa Chất, người viết bài có nghe được một đoạn trao đổi ngắn giữa các cụ trong mâm cỗ và khi nghe xong…hoàn toàn không hiểu gì. Khi hỏi đến, các cụ mới bảo đây là ngôn ngữ chỉ trong làng mới có nhưng đần đã bị mai một vì lớp trẻ không còn thực hành ngôn ngữ này mấy nữa.

Vậy nên, với tinh thần “sẽ không có thứ gì sẽ bị biến mất nếu như vẫn còn có người kể về nó”, Xin Chào Việt Nam sẽ kể cho các bạn bí ẩn về ngôn ngữ  có 102 này trên Chuyện Việt Nam. 

  1. Bí ẩn về ngôn ngữ lạ

Cách trung tâm thành phố Hà Nội chừng 40km, làng Đa Chất (xã Đại Xuyên, huyện Phú Xuyên, Hà Nội) hiện vẫn lưu giữ một hệ thống ngôn ngữ đặc biệt mà chỉ người dân trong làng hiểu với nhau. Đó là một loại tiếng lóng, mà người dân trong làng gọi là “Tõi Xưỡn”.

Theo các nhà nghiên cứu văn hoá, tiếng lóng ở làng Đa Chất gắn liền với đời sống sinh hoạt của người thợ làm nghề đóng cối xay. Thời trước, người nông dân phải dùng cối xay bóc tách vỏ lúa để làm ra gạo, nên chiếc cối xay lúa bằng tre là đồ dùng không thể thiếu. Đó cũng là thời kỳ mà người thợ đóng cối Đa Chất đi khắp nơi làm nghề. Mỗi gánh thợ cối Đa Chất có hai người, thường rong ruổi ở các làng quê hàng tháng trời. 

Hành trang của hai người thợ cối luôn là hai chiếc bồ, bên trong là quần áo, đồ dùng sinh hoạt và vài thứ dao, búa, tràng, đục. Chiếc cưa do người thợ cả đeo trên vai, vừa đi đường người thợ vừa rao “ai đóng cối không…”. Khi có người gọi thuê đóng cối, cùng với đàm phán tiền công người thợ còn phải thống nhất về chuyện ăn nghỉ.

Với hai người, thời gian làm một cái cối có thể xong trong nửa ngày, nhưng người thợ cối phải nhẩn nha làm cả ngày để còn ngủ qua đêm tại nhà chủ, sáng mai lên đường tìm nhà khác.

Đi nhiều nơi, gặp nhiều người, ăn uống sinh hoạt phải nhờ chủ nhà nên họ phải có “mật ngữ” để bảo vệ nhau cũng như để hạn chế những phiền hà, bất tiện trong những việc cần trao đổi riêng.

Chính ở môi trường như vậy, tiếng lóng ra đời và được của người thợ cối Đa Chất truyền dạy cho nhau, qua quá trình lâu dài trở thành thứ ngôn ngữ “độc lạ”. Theo khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu và Phát huy giá trị Di sản văn hóa, dù không phải là một thứ tiếng cổ bởi nó không có một quy luật ngữ âm nào, nhưng hệ thống từ vựng của tiếng lóng Đa Chất có thể đủ để giao tiếp hằng ngày.

Người thợ cối có thể nói nhuần nhuyễn ngôn ngữ này dựa theo phương pháp truyền khẩu và áp dụng vào những tình huống cụ thể. Người thợ Đa Chất nói “bệt” nghĩa là nhà, “thít” là ăn uống, “dùm” là tiền, “mận” là nước, “choáng” là đẹp, “êm” là ngon, “thuôn” là tốt, “sởn” là đi, “sưỡn” là máy móc… Chẳng hạn, nhà chủ đãi họ bữa ăn ngon, người thợ cối sẽ đánh giá: “Cái bệt này cốn lắm, cho thít êm quá” (cái nhà này giàu lắm, nó cho ăn ngon quá). Khi có khách tới nhà, người Đa Chất nói “Xảo sởn chác cho xì nhất đạng” (con đi mua cho bố một con gà, về thịt). Khi đi tàu xe, người thợ thấy có trộm cắp thì nhắc nhau “xảo tớp hách”, nghĩa là “có trộm đấy”…

Hoặc tỉ dụ như câu hỏi sau:

Có nhát nóng ngoại về tõi rực? Nghĩa là cháu từ cơ quan nào về.

  1. Một di sản bị bỏ quên

Vùng đất làng này có một mãnh lực mà chỉ khi sống ở đất làng mới có thể thông thạo được ngôn ngữ làng. Cứ ra khỏi làng là quên, các cô gái trong làng đi làm dâu xứ khác cũng chỉ một thời gian là không nói thành thạo được tiếng làng mình nữa.

Mặc dù vậy, nhiều người dân Đa Chất đều cho rằng, tiếng lóng Đa Chất hiện đang đứng trước nguy cơ mai một. Những người thợ cối có thể nói được tiếng lóng nhiều nhất nay đều qua đời hoặc đã già yếu, những người thế hệ sau, từng làm thợ cối cũng chỉ có thể nói được 50 – 60% so với “các cụ”. Số này không nhiều, đâu đó chỉ còn trên dưới 10 người. Lớp trẻ thì không được truyền dạy, thực hành thường xuyên nên chỉ sử dụng được rất ít từ.

Ngoại trừ vài đợt có chuyên gia, nhà nghiên cứu về làng khảo sát, nắm bắt thông tin hay thi thoảng báo chí về lấy tư liệu viết bài thì việc bảo tồn tiếng lóng không có gì mới. Đến giờ, những gì họ có trong tay chỉ duy nhất quyển sách “Văn hóa dân gian làng Đa Chất” đã in từ năm 2007. 

“Người làng Đa Chất vẫn đau đáu nỗi lo di sản sẽ dần mai một. Mong muốn của chúng tôi là một ngày nào đó, tiếng lóng được đưa vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia. Có như vậy, những khó khăn, vướng mắc mới được tháo gỡ, để chúng tôi thuận lợi hơn trong việc bảo tồn di sản quý giá của cha ông” – một cụ ông của làng Đa Chất chia sẻ.

Lần gần nhất, vào năm 2016, ngành văn hóa Thành phố Hà Nội đã tiến hành kiểm kê các di sản văn hoá phi vật thể trên địa bàn. Kết quả cho thấy, tiếng lóng Đa Chất đã bị thu hẹp không gian thực hành, số người có thể thực hành di sản ngày càng ít nên Sở Văn hoá – Thể thao Hà Nội đã đưa tiếng lóng Đa Chất vào danh sách 11 di sản văn hoá cần được bảo vệ khẩn cấp. Cơ quan này cũng lên kế hoạch lập hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa tiếng lóng làng Đa Chất vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia.

Và để góp phần giúp di sản không bị lãng quên, chúng tôi thực hiện video này.

Tất cả thông tin trên được chúng tôi góp nhặt từ tài liệu của Trung tâm Nghiên cứu và Phát huy giá trị Di sản văn hóa; cuốn sách “Văn hoá dân gian làng Đa Chất”.

Comments are closed.